banner_nomal-01.gif

Search

ĐI TÌM NGUỒN GỐC VÀ TÊN GỌI CÁC ĐỊA DANH TỈNH BÌNH PHƯỚC

  Tên gọi là yếu tố đầu tiên chúng ta biết, ấn tượng khi đến bất cứ vùng đất, địa điểm nào. Và chắc chắn chúng ta đều thắc mắc tại sao vùng đất, địa điểm ấy được gọi với tên gọi như thế. Biết về tên gọi của một vùng đất, địa điểm, có thể giúp chúng ta hiểu phần nào về lịch sử hình thành, phát triển và nét đặc trưng của vùng đất, địa điểm đó.

Tỉnh Bình Phước cũng có nhiều địa danh đi vào lịch sử dân tộc như Phước Long, Đồng Xoài, Phú Riềng đỏ... Về tên gọi các địa danh ở Bình Phước có thể chia thành các nhóm chính sau:

Nhóm tên theo Hán - Việt được đặt vào thời nhà Nguyễn, giai đoạn chế độ VNCH và sau giải phóng miền Nam thống nhất đất nước 30/4/1975: Phước Long, Bình Long, Lộc Ninh, Lộc Hưng, Tân Khai...

Nhóm tên theo bản ngữ của đồng bào dân tộc thiểu số, chủ yếu là đồng bào S’tiêng, Mnông, Khmer: Bù Đăng, Bù Đốp, Bù Gia Mập, Đăk Nhau, Đăk Ơ, Tà Thiết, Tà Vát... Các tên gọi này đã được Việt hóa cả về phát âm và chữ viết. Trong đó, “Bù” là từ chỉ cơ cấu dân cư tương đương như làng, sóc, buôn... còn các từ ghép chung mang ý nghĩa riêng của từng nhóm dân cư đó, có thể là tên cây, tên một người uy tín, một hiện tượng... Ngoài “Bù”, còn một số địa danh có từ “Đăk”, như: Đăk Nhau, Đăk Ơ... “Đăk” là nước, tên gọi này thường được đặt cho các địa điểm có nguồn nước như sông, suối hay thác nước, ví dụ: Tên sông suối Đăk Mai, Đăk Ké, Đăk Quotte, Đắk Huýt, Đăk Lung... “Tà” theo tiếng đồng bào Khmer cũng có nghĩa là làng, sóc...

Nhóm tên được đọc trại so với tên ban đầu: Đồng Xoài, Chơn Thành, Hớn Quản.

Ngoài ra, còn có các tên gọi khác, được đặt trong giai đoạn di dân phát triển kinh tế mới sau 1975 và di cư tự do sau này, có thể lấy nguyên tên đơn vị hành chính ở các tỉnh mà cư dân đến như thôn Bù Cà Mau ở xã Phú Nghĩa, huyện Bù Gia Mập hoặc ghép từ hai tên đơn vị hành chính nơi đi và nơi đến...
Trong khuôn khổ bài viết này, chúng ta cùng nhau tìm hiểu về nguồn gốc tên gọi và quá trình phát triển của một số địa danh tiêu biểu ở tỉnh Bình Phước, chủ yếu là các đơn vị hành chính cấp huyện để hiểu hơn về lịch sử hình thành và phát triển của vùng “đất đỏ Miền Đông” này.

trung%20tâm%20đồng%20xoài.png

Trung tâm thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước (ảnh tư liệu Bảo tàng tỉnh)

Tỉnh Bình Phước

Từ năm 1808, triều Nguyễn bắt đầu cho thiết lập cơ cấu hành chính và hệ thống đồn ải để quản lý, kiểm soát cư dân và vùng lãnh thổ đất đỏ miền Đông. Lúc bấy giờ, vùng đất tỉnh Bình Phước thuộc huyện Phước Long, trấn Biên Hòa (sau đổi thành tỉnh Biên Hòa).

Năm 1868, thực dân Pháp thiết lập bộ máy cai trị trên toàn bộ Nam Kỳ. Đến năm 1906, chúng thành lập các địa lý hành chính Hớn Quản và đồn binh Bù Đốp để siết chặt hơn nữa ách kiểm soát. Năm 1912, chúng tách một phần tỉnh Biên Hòa và một phần tỉnh Gia Định để thành lập tỉnh Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Phước lúc này thuộc tỉnh Thủ Dầu Một. Tháng 10/1956, chính quyền Ngô Đình Diệm cho tách một số quận phía Bắc của hai tỉnh Thủ Dầu Một và Biên Hòa để thành lập hai tỉnh Bình Long và Phước Long. Về phía ta, từ năm 1951, theo hệ thống hành chính của cách mạng, vùng đất Bình Phước thuộc tỉnh Thủ Biên. Để đảm bảo công tác  tổ chức và chỉ đạo chiến trường, tháng 6/1961 ta thành lập hai tỉnh Phước Long và Bình Long. Đến cuối năm 1971 đầu 1972, hai tỉnh Phước Long và Bình Long trước đây được hợp nhất thành tỉnh Bình Phước.

Ngày 02/7/1976, theo quyết định của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, tỉnh Sông Bé được thành lập trên cơ sở sáp nhập các tỉnh Thủ Dầu Một, Bình Phước trước đây cùng 3 xã An Bình, Đông Hòa và Bình An (của quận Thủ Đức, tỉnh Gia Định). Đến ngày 01/01/1997, tỉnh Bình Phước được tái lập trên cơ sở tách tỉnh Sông Bé thành tỉnh Bình Dương và Bình Phước.

Như vậy, tên gọi tỉnh Bình Phước bắt đầu từ cuối năm 1971 đầu năm 1972 trong kháng chiến chống Mỹ, trên cơ sở hợp nhất hai tỉnh Phước Long và Bình Long. Bình Phước được ghét từ hai chữ đầu của Bình Long và Phước Long, đây cũng là cách đặt tên phổ biến cho các đơn vị hành chính ở Nam Bộ thời nhà Nguyễn.

Đồng Xoài

Đồng Xoài hiện nay là trung tâm tỉnh lỵ, là thành phố duy nhất của tỉnh Bình Phước. Đồng Xoài là vùng đất giàu truyền thống cách mạng, địa danh Đồng Xoài đã đi vào lịch sử với mốc son chói lọi “Đồng Xoài rực lửa chiến công” của quân và dân ta trong kháng chiến chống Mỹ.

Khoảng thế kỷ XVII, Đồng Xoài là vùng đất hoang vu đầy thú dữ, đến thế kỷ XIX triều đình nhà Nguyễn thiết lập cơ cấu hành chính tại các tỉnh miền Đông. Tại khu vực Đồng Xoài ngày nay có một đồn lính đóng tại khu vực rừng xoài, nhân dân, những người thợ săn, người đi lấy lâm sản thường gọi là Đồn Xoài. Đồn Xoài lâu dần đọc trại thành Đồng Xoài. Năm 1876, sau khi đặt ách đô hộ tại “Nam Kỳ Lục Tỉnh”, thực dân Pháp chia Nam Kỳ thành bốn khu vực hành chính, vùng đất Đồng Xoài thuộc tiểu khu Biên Hòa, khu Sài Gòn. Năm 1889, khi thực dân Pháp đổi các tiểu khu thành tỉnh, Đồng Xoài thuộc quận Bà Rá, tỉnh Biên Hòa. Từ đó cho đến hết thời kỳ Pháp thuộc cơ cấu hành chính cơ bản không thay đổi.

Vùng đất Đồng Xoài trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, bị chia cắt, sáp nhập nhiều lần theo yêu cầu chỉ đạo chiến trường của ta hoặc theo ý đồ kiểm soát của đối phương.

Sau giải phóng, huyện Đồng Xoài và huyện Phú Giáo sáp nhập thành huyện Đồng Phú, thuộc tỉnh Sông Bé. Tháng 2/1977, xã Đồng Xoài được thành lập thuộc huyện Đồng Phú. Năm 1994, xã Đồng Xoài được nâng cấp thành thị trấn Đồng Xoài - trung tâm hành chính của huyện Đồng Phú. Ngày 01/01/1997,  tỉnh Sông Bé tách thành hai tỉnh Bình Dương và Bình Phước, thị trấn Đồng Xoài trở thành tỉnh lỵ của tỉnh Bình Phước. Năm 1999, Đồng Xoài được nâng cấp thành thị xã, đến năm 2018, Đồng Xoài chính thức trở thành phố thuộc tỉnh Bình Phước.

Phước Long

Phước Long là thị xã nằm phía Bắc tỉnh Bình Phước. Phước Long được biết đến trong lịch sử dân tộc với hình ảnh Núi Bà Rá hùng vĩ, với chiến thắng Phước Long 06/01/1975...

Theo Sách Từ điển Ðịa danh Hành chính Nam bộ (Nguyễn Ðình Tư, NXB Chính trị Quốc gia, xuất bản năm 2008, trang 867): “Phước Long là huyện thuộc phủ Gia Định, dinh Trấn Biên do Nguyễn Hữu Cảnh lập năm 1689 theo lệnh của chúa Nguyễn Phúc Chu trên địa bàn xứ Đồng Nai gồm bốn tổng Tân Chánh, Bình An, Long Thành Phước An”. Trong giai đoạn này, địa bàn thị xã Phước Long ngày nay thuộc tổng Bình An, huyện Phước Long. Phước Long theo tiếng Hán - Việt có thể dịch như sau: “Phước” là phúc, “Long” trong trường hợp này không có nghĩa là rồng, mà có nghĩa là đầy đặn, lớn lao, phồn vinh. Dưới triều nhà Nguyễn, khu vực Phước Long nhiều lần thay đổi địa giới hành chính, năm 1808 thuộc huyện Bình An, phủ Phước Long, trấn Biên Hòa đến năm 1832 thuộc huyện Bình An, phủ Phước Long, tỉnh Biên Hòa.

Trong giai đoạn Pháp thuộc, Phước Long thuộc đại lý Sông Bé (1912), sau đổi thành quận Bà Rá (1924), quận Phú Riềng (1925), quận Sông Bé (1927), quận Núi Bà Rá (1933).

Năm 1956, chính quyền Ngô Đình Diệm ra sắc lệnh số 143.NV  thành lập tỉnh Phước Long với phần đất phía bắc của tỉnh Biên Hòa và quận Bù Đốp của  tỉnh Thủ Dầu Một.

Theo hệ thống tổ chức và chỉ đạo chiến trường của ta, vùng đất Phước Long trước Cách mạng tháng Tám thuộc tỉnh Biên Hòa, đến tháng 5/1951, sáp nhập hai tỉnh Thủ Dầu Một và Biên Hòa thành tỉnh Thủ Biên, vùng đất Phước Long thuộc quận Sông Bé, tỉnh Thủ Biên. Tháng 6/1960, tỉnh Phước Long chính thức hình thành. Đến cuối năm 1971, hai tỉnh Phước Long và Bình Long hợp nhất thành Phân khu Bình Phước, năm 1972 đổi thành tỉnh Bình Phước.
Sau giải phóng, Phước Long là một huyện của tỉnh Sông Bé (1976), huyện của tỉnh Bình Phước (1997), đến năm 2009 Phước Long được nâng cấp thành thị xã cho đến ngày nay.

tuong%20đai%20phươc%20long.png

Tượng đài Chiến thắng Phước Long (ảnh Lê Văn Năm)

Bình Long

Bình Long là thị xã thuộc tỉnh Bình Phước.

Tên gọi Bình Long được nhà Nguyễn đặt cho rất nhiều vùng đất ở Nam Bộ. Theo Sách Từ điển Ðịa danh Hành chính Nam bộ (Nguyễn Ðình Tư, NXB Chính trị Quốc gia, xuất bản năm 2008 có 14 đơn vị hành chính ở Nam Bộ được đặt tên Bình Long.

Còn đối với vùng đất Bình Long, tỉnh Bình Phước ngày nay, trong giai đoạn nhà Nguyễn thuộc huyện Phước Long, tổng Bình An, dinh Trấn Biên. Năm 1808, tổng Bình An được nâng lên thành huyện Bình An, vùng đất Bình Long thuộc tổng An Thủy, huyện Bình An. Đến năm 1846, đất Bình Long thuộc tổng Quảng Lợi, tỉnh Biên Hòa.

Tháng 12/1861 Pháp đánh chiếm 3 tỉnh miền Đông. Theo đó, chúng thiết lập bộ máy cai trị thực dân khá hoàn chỉnh trên toàn Nam Kỳ. Lúc này, vùng đất Bình Long  thuộc quận Cần Lê, tỉnh Biên Hòa. Năm 1912, Pháp tách một phần tỉnh Biên Hòa và một phần tỉnh Gia Định để thành lập tỉnh Thủ Dầu Một. Vùng đất Bình Long vào thời điểm này thuộc quận Hớn Quản, tỉnh Thủ Dầu Một.

Sau Hiệp định Giơ-ne-vơ, chính quyền Ngô Đình Diệm cho tách một số quận của hai tỉnh Thủ Dầu Một và tỉnh Biên Hòa để lập hai tỉnh mới là Bình Long và Phước Long. Tỉnh Bình Long được thành lập theo sắc lệnh 143.NV ngày 22/10/1956 gồm 3 quận An Lộc, Lộc Ninh và Chơn Thành.

Đối với hệ thống tổ chức chỉ đạo chiến trường của ta, trước 1951 Bình Long thuộc tỉnh Thủ Dầu Một, từ tháng 5/1951 Bình Long thuộc quận Hớn Quản, tỉnh Thủ Biên, do ta sáp nhập tỉnh Biên Hòa và tỉnh Thủ Dầu Một thành tỉnh Thủ Biên. Đến 1960, ta thành lập tỉnh Bình Long, năm 1971 sáp nhập tỉnh Bình Long và tỉnh Phước Long thành Phân khu Bình Phước, đến năm 1972 đổi tên Phân khu Bình Phước thành tỉnh Bình Phước. Thị xã Bình Long ngày nay là một phần của quận Hớn Quản, tỉnh Bình Phước.
Năm 1976, tỉnh Bình Phước sáp nhập với tỉnh Thủ Dầu Một thành tỉnh Sông Bé, Bình Long là một huyện của tỉnh Sông Bé. Ngày 01/01/1997 tỉnh Bình Phước được tái lập, Bình Long là một trong 5 huyện của tỉnh Bình Phước, ngày 11/8/2009 Chính phủ ban hành Nghị quyết số 35/NQ-CP thành lập thị xã Bình Long cho đến ngày nay.

cổng%20chào%20bình%20long.png

Cổng chào thị xã Bình Long (ảnh Lê Văn Năm)

Đồng Phú

Sau năm 1975, để sắp xếp lại cơ cấu hành chính, Quốc hội thành lập tỉnh Sông Bé trên cơ sở sáp nhập Thủ Dầu Một, Bình Phước và 3 xã thuộc huyện Thủ Đức. Khi mới thành lập, tỉnh Sông Bé có 14 huyện: Bến Cát, Bù Đăng, Bù Đốp, Châu Thành, Chơn Thành, Dầu Tiếng, Dĩ An, Đồng Xoài, Hớn Quản, Lái Thiêu, Lộc Ninh, Phú Giáo, Phước Bình, Tân Uyên và thị xã Thủ Dầu Một. Tỉnh lỵ đặt tại thị xã Thủ Dầu Một.

Tháng 10 năm 1976, huyện Đồng Phú được thành lập trên cơ sở sáp nhập hai huyện Đồng Xoài và Phú Giáo. Chữ Đồng lấy từ Đồng Xoài, chữ Phú lấy từ Phú Giáo.

Đến ngày 06/11/1996, kỳ họp thứ 10 Quốc hội khóa IX ra nghị quyết chia tỉnh Sông Bé để tái lập tỉnh Bình Dương và tỉnh Bình Phước. Tỉnh Bình Dương gồm thị xã Thủ Dầu Một và 3 huyện: Bến Cát, Tân Uyên, Thuận An, tỉnh lị đặt tại thị xã Thủ Dầu Một. Tỉnh Bình Phước gồm 5 huyện: Bình Long, Bù Đăng, Đồng Phú, Lộc Ninh, Phước Long, tỉnh lỵ đặt tại thị trấn Đồng Xoài, huyện Đồng Phú. Năm 1999, Đồng Xoài được tách khỏi đồng phú và nâng cấp thành thị xã Đồng Xoài.

Chơn Thành

Huyện Chơn Thành nằm ở phía Tây của tỉnh Bình Phước, phía Bắc giáp huyện Hớn Quản, phía Nam giáp huyện Bàu Bàng, Phú Giáo (tỉnh Bình Dương), phía Đông giáp huyện Đồng Phú, thành phố Đồng Xoài, phía Tây giáp huyện Dầu Tiếng (tỉnh Bình Dương).

Vùng đất Chơn Thành có lịch sử hình thành gắn liền với quá trình di dân lập làng của người Việt tại Bình Phước vào thời nhà Nguyễn. Về tên gọi Chơn Thành được giải thích như sau: Một lần trong tình thế khó khăn khi trốn chạy nhà Tây Sơn, chạy đến địa phận Chơn Thành ngày nay, Nguyễn Ánh đã được nhân dân địa phương giúp đỡ lương thực và che chở. Sau này khi lên ngôi, Nguyễn Ánh (Vua Gia Long) nhớ đến ơn cưu mang của người dân nơi đây đã đặt tên cho vùng đất có những người chân tình, thành thật ấy là Chân Thành, lâu dần Chân Thành đọc trại thành Chơn Thành như ngày nay. (Theo https://chonthanh.binhphuoc.gov.vn)

Qua tìm hiểu chưa tìm thấy các tài liệu lịch sử nào ghi lại sự kiện này, tuy nhiên, từ “Chân Thành” đọc thành “Chơn Thành” thì hoàn toàn có cơ sở. Từ “Chân” ở một số địa phương đọc thành “Chơn” như “chân lý, chân thật” đọc thành “chơn lý, chơn thật”... cách đọc này phổ biến ở các tỉnh miền Trung và miền Nam, phù hợp với thời gian khai hoang, lập làng của cư dân người Việt ở Chơn Thành vào thế kỷ XVIII thế kỷ XIX.

Hớn Quản

Hớn Quản là huyện thuộc tỉnh Bình Phước, phía Đông giáp huyện Phú Riềng và huyện Đồng Phú, phía Tây giáp tỉnh Tây Ninh, phía Nam giáp huyện Chơn Thành, phía Bắc giáp huyện Lộc Ninh và thị xã Bình Long. Huyện Hớn Quản được tái lập 2009 trên cơ sở chia tách và đổi tên một phần diện tích từ huyện Bình Long (cũ).  

Tên gọi Hớn Quản đã có từ thời Nhà Nguyễn, tương truyền rằng: Trong số những người theo chân lính lưu đồn từ xứ Quảng đến đây lập nghiệp, có cha con ông Hớn rất đức độ, được mọi người yêu mến, kính phục vì thường giúp đỡ người dân tìm kế sinh nhai, chỉ bảo những điều hay, lẽ phải và khuyên nhủ mọi người sống đoàn kết, yêu thương, đùm bọc lẫn nhau. Khi ông mất đi, bà con lấy tên ông Hớn người xứ Quảng đặt tên cho làng, gọi là Hớn Quảng, lâu dần tiếng địa phương đọc là Hớn Quản. Từ năm 1808, triều Nguyễn bắt đầu cho thiết lập cơ cấu hành chính và hệ thống đồn ải để quản lý, kiểm soát cư dân và vùng lãnh thổ vùng đất đỏ miền Đông. Lúc bấy giờ, Hớn Quản thuộc huyện Phước Long, trấn Biên Hòa (sau đổi thành tỉnh Biên Hòa). Năm 1868, thực dân Pháp thiết lập bộ máy cai trị trên toàn bộ Nam Kỳ, đến năm 1906 chính quyền thực dân lập các địa lý hành chính Hớn Quản và đồn binh Bù Đốp để siết chặt hơn nữa ách kiểm soát. Năm 1912, chúng tách một phần tỉnh Biên Hòa và một phần tỉnh Gia Định để thành lập tỉnh Thủ Dầu Một, Hớn Quản thuộc tỉnh Thủ Dầu Một.

Từ năm 1951, theo hệ thống hành chính của cách mạng, hai tỉnh Thủ Dầu Một và Biên Hòa được hợp nhất thành tỉnh Thủ Biên, Hớn Quản là một quận của tỉnh Thủ Biên. Tháng 10/1956, chính quyền Ngô Đình Diệm cho tách một số quận phía Bắc của hai tỉnh Thủ Dầu Một và Biên Hòa để thành lập hai tỉnh Bình Long và Phước Long, Hớn Quản thuộc quận An Lộc, tỉnh Bình Long.

Ngày 11/8/2009, huyện Hớn Quản được tái lập trên cơ sở tách ra từ huyện Bình Long (cũ) cho đến ngày nay.

hớn%20quản.png
Trung tâm hành chính huyện Hớn Quản (ảnh tư liệu Bảo tàng tỉnh)

Bù Đốp:

“Bù Đốp là tiếng bản ngữ S’tiêng, Bù có nghĩa là làng, sóc, còn Đốp là con dọc, một loại khỉ lớn. Theo truyền thuyết kể rằng, vùng đất Bù Đốp xưa kia là rừng thiêng, nơi có nhiều đàn khỉ lớn sinh sống, khi người S’tiêng đến vùng đất này tìm nơi cất nhà thì vô tình nhặt được một con dọc chết bên bờ suối, vì vậy họ quyết định đặt tên cho sóc là Bù Đốp” (theo Lưu Ty (1972). Non nước Phước Long, trang 21). Vào những năm 20 của thế kỷ XIX, nhà Nguyễn thiết lập cơ cấu hành chính tại vùng đất Bù Đốp, năm 1906 thực dân Pháp thiết lập bộ máy cái trị và thành lập đồn binh Bù Đốp. Dưới thời Pháp thuộc, địa giới Bù Đốp nhiều lần thay đổi, đến năm 1927, Bù Đốp là một quận của tỉnh Thủ Dầu Một, sau là tỉnh Thủ Biên. Năm 1961, chế độ VNCH đổi tên Bù Đốp thành Bố Đức, đến ngày 07/4/1972, Bù Đốp được giải phóng, tên “Bố Đức” không còn được sử dụng, Bù Đốp là một quận của tỉnh Phước Long, sau là tỉnh Bình Phước. Sau ngày giải phóng, Bù Đốp nhiều lần sáp nhập, chia tách, đến đầu năm 2003, huyện Bù Đốp được thành lập thuộc tỉnh Bình Phước và chính thức đi vào hoạt động từ ngày 01/5/2003 đến nay.

Bù Đăng:

Bù Đăng nguyên là tên một sóc của đồng bào dân tộc S’tiêng. Năm 1941, khi người Pháp cho mở đường 14, địa điểm này được chọn làm nơi đặt trạm công chánh nên sóc Bù Đăng dời đi cách khoảng 2km về hướng Buôn Mê Thuột. Lúc này Bù Đăng có tên gọi là làng Công Chánh hay trạm Công Chánh, đồng thời cũng có tên gọi là Bu Tullier-Minh (tên ghép của ông Tullier - Trưởng ty công chánh Thủ Dầu Một và ông Minh Giám thị công trình). Có người còn gọi là “ Bù Đăng 55” có nghĩa là từ Đồng Xoài đến Bù Đăng cách xa 55 km.

Năm 1956, Bù Đăng thuộc quận Đức Phong của tỉnh Phước Long. Quận Đức Phong có 2 tổng 3 xã, quận lỵ đặt tại xã Bù Đăng, tổng Bù Đăng.

Năm 1976, quận Đức Phong trở thành huyện Bù Đăng thuộc tỉnh Sông Bé. Năm 1977, huyện Bù Đăng cùng với 2 huyện Phước Bình và Bù Đốp nhập lại thành huyện Phước Long. Tháng 11 năm 1988, huyện Bù Đăng được tái lập trên cơ sở tách ra từ huyện Phước Long.

Bù Gia Mập:

Bù Gia Mập là huyện vùng biên, nằm ở phía Bắc của tỉnh Bình Phước, nơi đây có Vườn Quốc gia Bù Gia Mập, có nhiều danh lam thắng cảnh đẹp và nổi tiếng của tỉnh Bình Phước. Về tên gọi, như đã nói bên trên, Bù Gia Mập là tên gọi bản ngữ của đồng bào S’tiêng, Bù là làng, sóc, Gia Mập là tên riêng, trong một số tài liệu trước đây viết Bù Jamap, trong giới hạn tìm hiểu, người viết chưa đủ cơ sở để giải thích ý nghĩa của từ “Gia Mập”.
Thời nhà Nguyễn, vùng đất Bù Gia Mập thuộc Phước Long, thời kháng chiến chống Pháp thuộc đại lý Sông Bé, sau đổi thành quận Bà Rá (1924), quận Phú Riềng (1925), quận Sông Bé (1927), quận Núi Bà Rá (1933). Trong kháng chiến chống Mỹ, vùng đất Bù Gia Mập thuộc quận Sông Bé (1956), quận Phước Hóa (1958), quận Phước Bình (1961) theo cơ cấu hành chính của chế độ VNCH. Về phía cách mạng, vùng đất Bù Gia Mập là một K (tương tương cấp huyện) thuộc tỉnh Phước Long, sau là tỉnh Bình Phước. Sau giải phóng, Bù Gia Mập thuộc huyện Phước Long, tỉnh Sông Bé, sau là huyện Phước Long, tỉnh Bình Phước. Năm 2009 huyện Bù Gia Mập được thành lập trên cơ sở tách ra từ huyện Phước Long (cũ). Đến năm 2015, huyện Bù Gia Mập được chia tách thành 02 huyện: Bù Gia Mập (gồm 08 xã) và huyện Phú Riềng(gồm 10 xã) theo Nghị quyết số 931/NQ-UBTVQH13 ngày 15/5/2015 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Thác.png

Thác Đăk Mai 1 tại huyện Bù Gia Mập (ảnh Lê Văn Năm)

Lộc Ninh:

Lộc Ninh là đơn vị hành chính cấp huyện, nằm ở phía Tây Bắc và là huyện vùng biên của tỉnh Bình Phước. Là “cái nôi” của phong trào đấu tranh cách mạng của tỉnh Bình Phước, Lộc Ninh có nhiều di tích lịch sử quan trọng, gắn liền với những chiến công của quân và dân ta trong kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ.

 Về ý nghĩa của tên Lộc Ninh, trong khuôn khổ nghiên cứu người viết chưa khẳng định. Tuy nhiên theo Sách Từ điển Ðịa danh Hành chính Nam bộ (Nguyễn Ðình Tư, NXB Chính trị Quốc gia, xuất bản năm 2008, trang 622) có ghi từ Lộc Ninh, đấy là: “là tổng thuộc huyện Bình An, phủ Phước Long, tỉnh Biên Hòa triều Thiệu Trị, Tự Đức” như vậy, tên gọi Lộc Ninh đã có từ thời triều Thiệu Trị, Tự Đức.

Trải quan các giai đoạn lịch sử, từ triều Nguyễn, kháng chiến chống Pháp, kháng chiến chống Mỹ đến nay, Lộc Ninh nhiều lần sáp nhập, chia tách, thay đổi cơ cấu hành chính. Đến năm 2003, huyện Bù Đốp được tái lập trên cơ sở tách ra từ huyện Lộc Ninh (cũ), huyện Lộc Ninh cơ bản giữ nguyên đơn vị hành chính cho đến ngày nay.

 thi%20tran%20loc%20ninh.png

Một góc thị trấn Lộc Ninh ngày nay (ảnh Lê Văn Năm)

Phú Riềng, Phú Riềng đỏ

Tên gọi Phú Riềng đỏ gắn liền với phong trào đấu tranh của công nhân đồn điền cao su Phú Riềng năm 1930.

Sau thế chiến thứ nhất, tư bản Pháp dẫn đầu bởi công ty Michelin, bắt đầu ồ ạt thực hiện đầu tư khai thác và phát triển các đồn điền cao su tại Việt Nam. Hàng trăm nghìn người từ khắp miền Bắc, miền Trung đã được tuyển mộ vào Nam để khai thác các đồn điền cao su. Trong quá trình phát triển đầu tư các đồn điền cao su, tư bản Pháp, dưới sự hỗ trợ của bộ máy chính quyền thuộc địa, đã bóc lột thậm tệ và tàn nhẫn sức lao động của những người công nhân cao su Việt Nam. Thời bấy giờ người ta thường ví đồn điều cao su Phú Riềng như "Địa ngục trần gian", nơi mà "Mỗi cây cao su mọc lên là có một người công nhân Việt Nam ngã xuống". Bị đánh đập, cúp phạt tàn nhẫn nhưng mỗi một phản ứng chống lại của công nhân dù lớn hay nhỏ đều bị đàn áp khốc liệt.

Năm 1928, đồng chí Nguyễn Xuân Cừ (tức Nguyễn Văn Vĩnh) được Kỳ bộ Thanh niên Cách mạng đồng chí hội Bắc kỳ cử đi “Vô sản hóa” ở đồn điền cao su Phú Riềng. Tại đồn điền cao su Phú Riềng, tháng 4/1928 đồng chí Nguyễn Xuân Cừ đã cùng đồng chí Trần Tử Bình thành lập chi bộ Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên đồn điền Phú Riềng. Thực hiện chủ trương phát triển tổ chức Đảng, đồng chí Ngô Gia Tự đã chỉ đạo đồng chí Nguyễn Xuân Cừ thành lập Chi bộ Đông Dương cộng sản Đảng ở Phú Riềng vào ngày 28/10/1929. Đây là Chi bộ Đảng cộng sản đầu tiên của Bình Phước và đồng thời là chi bộ đầu tiên của ngành cao su Việt Nam.

Ngay từ khi mới ra đời, Chi bộ đã xây dựng nên tổ chức nghiệp đoàn bí mật ra tờ báo “Giải thoát”, ra sức tuyên truyền cách mạng và đã nhanh chóng lãnh đạo công nhân cao su đấu tranh bằng nhiều hình thức phong phú. Các cuộc đấu tranh ở đây đã hoàn toàn mang tính tự giác. Đỉnh cao là cuộc bãi công của 5.000 công nhân cao su vào năm 1930 làm nên “Phú Riềng Đỏ” anh hùng, phá tan “Địa ngục trần gian”. Sau 08 ngày (từ ngày 30/01/1930 - 06/02/1930), cuộc đấu tranh của công nhân đồn điền cao su Phú Riềng đã giành thắng lợi to lớn, ảnh hưởng sâu rộng và để lại nhiều bài học sâu sắc cho cách mạng Việt Nam. Cuộc đấu tranh Phú Riềng Đỏ đã góp phần thúc đẩy phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân Việt Nam lên một bước thắng lợi.

Phú Riềng đỏ hiện nay được đặt tên cho đường ĐT741 đoạn đi qua thành phố Đồng Xoài và nhiều tuyến đường khác tại các huyện, thị xã của tỉnh Bình Phước. Phú Riềng cũng được đặt cho đơn vị hành chính cấp huyện trẻ nhất của tỉnh Bình Phước, huyện Phú Riềng.

Sóc Bom Bo

Bom Bo là tên một sóc của đồng bào dân tộc S’tiêng sinh sống tại vùng đất Bù Đăng, tỉnh Bình Phước. Sóc Bom Bo gắn liền với hình ảnh đồng bào S’tiêng giã gạo nuôi quân trong nhạc phẩm Tiếng chày trên Sóc Bom Bo của cố nhạc sỹ Xuân Hồng.

Trong những năm tháng kháng chiến chống đế quốc Mỹ, người dân nói chung và đồng bào dân tộc thiểu số của tỉnh Bình Phước nói riêng đã đóng góp sức người, sức của vào công cuộc giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Những năm đầu thập niên 1960, Mỹ - ngụy liên tục càn quét, dồn dân vào ấp chiến lược, hòng tiêu diệt cách mạng, cắt đứt liên hệ của người dân với cách mạng. Cả sóc Bom Bo kiên quyết không vào ấp chiến lược. Đến giữa năm 1963, khi địch vây bắt và khủng bố gắt gao thì già trẻ, gái trai của vài chục hộ dân sóc Bom Bo đã lặng lẽ băng rừng, vượt suối vào căn cứ “Nửa Lon” để theo cách mạng. Ở vùng đất mới, bà con bắt tay vừa xây dựng lán trại, tăng gia sản xuất và vừa tham gia đánh giặc. Thanh niên thì vào bộ đội, du kích, làm giao liên; còn phụ nữ và trẻ em thì đêm đêm giã gạo nuôi quân. Hình ảnh ánh đuốc lồ ô bập bùng thắp sáng, tiếng chày giã gạo thâu đêm đã được cố nhạc sỹ Xuân Hồng đưa vào nhạc phẩm Tiếng chày trên sóc Bom Bo khi ông đi thâm nhập thực tế trong Chiến dịch Đồng Xoài tháng 6/1965.

Sau khi ra đời, bài hát Tiếng chày trên sóc Bom Bo được dựng cấp tốc và phát trên Đài phát thanh Giải phóng, đã tạo nên một sức hấp dẫn đặc biệt, hào hùng như huyền thoại đẹp của người S'tiêng giàu lòng yêu nước: “Ðuốc gần tàn nhịp chày thêm rắn rỏi/ Bóng trăng lên vừa khỏi đỉnh đồi cây/ Người chưa ngơi đã sẵn có người thay/ Cối gạo vơi đi và rồi gạo lại đầy...”.

Sóc Bom Bo ngày nay thuộc thôn Bom Bo, xã Bình Minh, huyện Bù Đăng. Nơi đây đã được đầu tư xây dựng Khu bảo tồn văn hóa dân tộc S’tiêng khang trang, với mục đích bảo tồn và phát huy những giá trị tốt đẹp của văn hóa truyền thống đồng bào S’tiêng.

Bà Rá

Bà Rá, là cách đọc được Việt hóa của từ B’Ra theo bản ngữ của đồng bào dân tộc S’tiêng, B’Ra có nghĩa là ông, bà. Bà Rá trước đây được gọi chung cho Núi Bà Rá, vùng đất Bà Rá (thị xã Phước Long) hoặc “người Bà Rá” theo các tư liệu của thực dân Pháp khi nói đến các dân tộc thiểu số tại Phước Long ngày nay. Hiện nay, nhắc đến Bà Rá là nhắc đến Núi Bà Rá và vị thần cai quản tại Núi Bà Rá.

Núi Bà Rá nằm trên địa phận phường Sơn Giang, thị xã Phước Long, tỉnh Bình Phước. Với độ cao 723m so với mực nước biển, Núi Bà Rá có vẻ đẹp hùng vĩ tráng lệ. Đây là một trong 3 ngọn núi cao và hùng vĩ nhất Nam Bộ. Trong cộng đồng người S’tiêng vẫn lưu truyền những truyền thuyết về Núi Bà Rá, về vị thần cai quan vùng đất này.

Truyền thuyết kể rằng vị tổ của người S’tiêng có hai người em gái; ông đắp núi Bà Đen cho cô em gái đầu và đắp núi Bà Rá cho người em gái thứ hai để trấn giữ đất đai của người S’tiêng. Đồng bào S’Tiêng gọi ngọn núi này với cái tên đầy thành kính: “Bơnom Brah”, có nghĩa là “ngọn núi Thần” hay “Thần Núi Yang Yumbra” là vị thần được tôn thờ trên đỉnh núi Bà Rá. Đồng bào Khmer gọi là núi “Chân Phật”.

Với địa hình hiểm trở, Núi Bà Rá là nơi ghi dấu nhiều chiến công anh dũng, kiên cường của các chiến sỹ cách mạng trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ. Từ năm 1925 đến năm 1941, thực dân Pháp cho xây tại chân Núi một nhà tù lớn để giam cầm những chiến sỹ cách mạng như Nữ tướng Nguyễn Thị Định Tô Ký... mặc dù bị giam cầm tại vùng “rừng thiêng nước độc”, chế độ lao tù cực khổ nhưng các chiến sỹ cách mạng vẫn kiên cường và duy trì hoạt động cách mạng ngay trong nơi giam cầm. Trong kháng chiến chống Mỹ, Núi Bà Rá là địa bàn hoạt động của các lực lượng du kích địa phương. Núi Bà Rá không chỉ mang ý nghĩa lịch sử mà còn là một trong những thắng cảnh đẹp nổi tiếng với dòng Sông Bé quanh co, Thác Mẹ, Thác Mơ, rừng cây với hệ động thực vật vô cùng phong phú được xếp vào hàng đặc trưng nhất nước.

núi%20bà%20rá.png
Núi Bà Rá và dòng Sông Bé (ảnh Lê Văn Năm)

Sông Bé:

Sông Bé được bắt nguồn từ hồ Thác Mơ, thị xã Phước Long, Bình Phước. Sông có chiều dài khoảng 350 km, chảy qua các tỉnh Bình Phước, Bình Dương và Đồng Nai. Sông Bé đổ vào sông Đồng Nai tại nhà máy thủy điện Trị An cách hồ Trị An khoảng 2 km về hướng Tây.

Sông Bé cũng là tên đại lý hành chính do thực dân Pháp lập trên vùng đất Bù Gia Mập, Phước Long Phú Riềng ngày nay. Đại lý Sông Bé sau đổi thành quận Bà Rá (1924), quận Phú Riềng (1925), đến năm 1927 đổi thành quận Sông Bé. Năm 1956, Sông Bé được đặt cho một quận của tỉnh Phước Long của chế độ VNCH. Năm 1976, tỉnh Bình Phước và Thủ Dầu Một hợp nhất thành tỉnh Sông Bé, đến năm 1996, tỉnh Sông Bé giải thể để tái lập tỉnh Bình Dương và tỉnh Bình Phước như ngày nay.

Tà Thiết

Tà Thiết, Căn cứ Tà Thiết là tên gọi của Căn cứ Bộ Chỉ huy quân giải phóng miền Nam Việt Nam (xã Lộc Thành huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước).

Ngày 07/4/1972, Lộc Ninh là huyện đầu tiên của miền Nam được giải phóng, Trung ương Cục và Bộ Tư lệnh Miền quyết định dời căn cứ Quân ủy Miền từ Sóc Con Trăng (Tây Ninh) về đóng tại Sóc Tà Thiết. Đây là Sóc của đồng bào dân tộc Khmer. Theo tiếng đồng bào Khmer Tà có nghĩa là Ông, Thiết là tên riêng, Sóc Tà Thiết nghĩa là Sóc Ông Thiết nếu dịch theo tiếng Việt. Căn cứ Bộ Chỉ huy Quân giải phóng miền Nam Việt Nam (Căn cứ Tà Thiết) được xây dựng năm 1973, bao gồm: nhà ở và nhà làm việc của các đồng chí lãnh đạo cao cấp của Đảng và Nhà nước như: Trần Văn Trà, Nguyễn Thị Định, Lê Đức Anh, Phạm Hùng… và các hạng mục công trình: Bếp Hoàng Cầm, Hầm Giao ban, Hội trường… Căn cứ không chỉ làm nhiệm vụ bảo vệ và phát triển các hoạt động của Bộ Chỉ huy Miền mà còn là căn cứ cơ bản của Bộ Chỉ huy Chiến dịch giải phóng Sài Gòn, góp phần quan trọng làm nên thắng lợi vẻ vang của Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.
Ngày nay, di tích Căn cứ Tà Thiết đã được Thủ tướng Chính phủ xếp hạng di tích lịch sử quốc gia đặc biệt và là địa điểm tham quan, du lịch hấp dẫn không thể bỏ qua của du khách khi đến tỉnh Bình Phước.

bô%20chi%20huy%20miền.png

Hội trường làm việc của Bộ Chỉ huy Miền tại Căn cứ Tà Thiết (ảnh Lê Văn Năm)

Nhà Giao tế

Nhà Giao tế là tên gọi khác của di tích Trụ sở Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, tại thị trấn Lộc Ninh, huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước.

Ngày 7/4/1972, Lộc Ninh được hoàn toàn giải phóng, là huyện đầu tiên giải phóng trên toàn miền Nam. Từ đó Lộc Ninh là nơi tập trung các cơ quan Chính trị, Quân sự, Hậu cần… Lộc Ninh cũng là nơi đóng chân của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam. Tháng 03/1973, trước nhu cầu công tác trên mặt trận ngoại giao, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam thống nhất chọn vị trí nền ngôi nhà “Cao Cẳng” (Ngôi nhà được xây dựng từ năm 1911, là văn phòng làm việc của công ty cao su Xét - Xô của Pháp, dùng để quản lý việc khai thác mủ cao su ở Lộc Ninh. Nhà được xây dựng theo lối nhà sàn của đồng bào dân tộc thiểu số, cho nên nhân dân trong vùng vẫn quen gọi là Nhà “Cao Cẳng”) để xây dựng trụ sở cách mạng, với đồ án bản vẽ thiết kế của kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát - Chủ tịch CPCMLTCHMNVN. Sau hơn một tháng thi công, công trình bề thế, khang trang đã được hoàn thành, gồm một trệt và một lầu. Tầng trệt xây dựng bằng bê tông chắc chắn, dùng để hội họp, mitting và cũng là nơi diễn ra các hoạt động văn hóa văn nghệ. Tầng lầu được xây dựng bằng gỗ, có lan can bao quanh được thiết kế theo kiểu phòng khánh tiết, mái tôn “5 nóc, 4 mái” được sơn đỏ.

Ngôi nhà xây dựng để đón tiếp các phái đoàn ngoại giao trong và ngoài nước nên tên gọi “Nhà Giao tế” ra đời từ đó.

nhà%20giao%20tê.png

Di tích Nhà Giao tế (ảnh Lê Văn Năm)

Lời kết:

Như vậy, qua bài viết này chúng ta đã hiểu phần nào về nguồn gốc tên gọi và quá trình hình thành, phát triển của các địa danh, địa điểm tiêu biểu của tỉnh Bình Phước. Ngoài các tên goi, Bình Phước còn rất nhiều điều thú vị khác đang đợi các bạn đến và khám phá.

Bài, ảnh Lê Văn Năm

 

Lượt xem: 1174

  • File đính kèm:

Bookmark and Share

Bình luận

chỉ mục.jpg

       Bảo tàng tỉnh Bình Phước

Đường Hồ Xuân Hương, phường Tân Phú ,
thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước

Email: baotangbinhphuoc@gmail.com
Điện thoại: 0271 6502 333 - 0271 3870 690

Giờ mở cửa
từ 8h-17h từ thứ Hai đến Chủ nhật
(Cả ngày Lễ và Tết)

>>> Đường tới Bảo tàng

TÌM-HIỂU-90-NĂM-LỊCH-SỬ-ĐẢNG-1.gif

HCM1.gif

Hệ thống mail công vụ 01.gif

covid-19.gif

LIÊN KẾT WEBSITE

Liên kết website ngành

Liên kết website trong tỉnh

Các Tạp chí văn hóa

THỐNG KÊ TRUY CẬP

Đang online: 21

Hôm nay: 13

Lượt truy cập: 402.711