banner_nomal-01.gif

Search

HỌ TỘC, DÒNG HỌ TRUYỀN THỐNG CỦA NGƯỜI XTIÊNG VÀ VĂN HÓA ỨNG XỬ CỘNG ĐỒNG

Người Xtiêng là một trong những cộng đồng dân tộc thiểu số sinh sống lâu đời ở vùng đất Đông Nam Bộ. Dân số hiện nay khoảng 91.000 người, sinh sống ở ba tỉnh là Đồng Nai, Lâm Đồng và Bình Phước. Trong đó, Bình Phước là địa phương có dân số đông nhất, khoảng 89.000 người([1]). Hiện nay người Xtiêng Việt Nam hầu hết sử dụng họ Điểu (đối với nam giới) và họ Thị (đối với nữ giới) ở Bình Phước, họ K (ở Đồng Nai) để đăng ký hộ tịch và giải quyết các vấn đề trong quan hệ hành chính. Tuy nhiên, trong thực tế, vấn đề Họ và Dòng họ của người Xtiêng cấu trúc khá đa dạng, được hình thành lâu đời, mang đặc trưng của cộng đồng cư dân vùng trường sơn nam tây nguyên, ghi dấu các yếu tố lịch sử xã hội qua các thời kỳ. Cho đến nay, trong văn hóa truyền thống, người Xtiêng vẫn giữ văn hóa Họ và dòng họ để ứng xử, giải quyết một số vấn đề của cộng đồng, phổ biến nhất là các nhóm Xtiêng sinh sống ở Bình Phước.

2018.06.05 bài Hội thảo VNH lần V.PNG
Chân dung người Xtiêng. Ảnh Nghi Quân.

I.KHÁI QUÁT VỀ HỌ VÀ DÒNG HỌ CỦA NGƯỜI XTIÊNG

Người Xtiêng có tập quán cư trú tập trung trong các Poh, Wăng Sóc với quy mô nhỏ, khoảng từ vài hai mươi đến ba mươi hộ. Để chọn được địa điểm lập sóc, người dân phải tuân thủ rất nhiều quy tắc khác nhau như: nơi có nguồn nước (nhưng không được sống đầu nguồn), nơi có vùng đất bằng phẳng, nơi có đất sản xuất, nơi không có thần linh an ngự,... Đối với hoạt động lao động sản xuất, người Xtiêng có hai hình thức canh tác chủ yếu là canh tác lúa nước và canh tác lúa nương - rẫy. Việc canh tác lúa nước rõ rằng tính ổn định lâu dài là điều tất yếu. Đối với hình thức làm lúa rẫy, họ canh tác du canh tương đối ổn định. Ban đầu, họ chọn một vùng đất gần khu vực cư trú để canh tác, tùy vào năng lực gia đình và nhu cầu thực tế cuộc sống để lựa diện tích cho phù hợp. Sau thời gian từ ba năm đến năm năm hoặc lâu hơn tùy vào chất lượng đất, khi đất đã bạc màu thì họ chuyển sang khai hoang vùng đất khác để canh tác với điều kiện đất đó chưa có ai sử dụng. Phần diện tích bị bỏ hoang đó được cộng đồng xem là có chủ, không một ai được phép khai hoang, canh tác trên phần đất đó, dù có bỏ hoang bao lâu. Ở phần đất mới, họ tiếp tục canh tác từ ba năm đến năm năm, khi đất bị bạc màu thì họ sẽ tiếp tục khai hoang một khu vực mới để canh tác. Và khi đất bị bạc màu, họ quay về phần diện tích canh tác ban đầu để tiếp tục canh tác([2]). Vòng quay sản xuất nương rẫy cứ diễn ra như thế cho đến hết cuộc đời, có thể kế tục đến đời con, đời cháu. Do đó, tính chất cư trú và lao động sản xuất của người Xtiêng là tương đối ổn định. Việc thay đổi điểm cư trú, di dời, lập làng mới của họ chỉ diễn ra khi Sóc, Poh gặp những hiểm họa gây ra cho cộng đồng như: cư dân trong sóc bị bệnh dịch, do tác động của chiến tranh, do hỏa hoạn([3]). Việc lựa chọn địa điểm cư trú mới phải tuân thủ những nguyên tắc hết sức nghiêm ngặt, thực hiện những nghi lễ trang trọng. Như vậy, dù canh tác lúa nước hay nương rẫy thì người Xtiêng cũng có quá trình cư trú tương đối ổn định. Đây là một trong những yếu tố để hình thành và phát triển Họ tộc và Dòng họ truyền thống của người Xtiêng.

Cũng như nhiều cộng đồng cư dân khác, sự hình thành Họ và Dòng họ của người Xtiêng có nhiều hình thức khác nhau, qua nhiều giai đoạn lịch sử khác nhau, ở nhiều vùng miền của nhiều địa phương cũng có sự khác nhau.

Trước hết, trên bình diện chung, khảo sát ở Bình Phước cho thấy quá trình hình thành Họ và Dòng họ của người Xtiêng có điểm chung là hình thành từ lâu đời và do cộng đồng tự đặt, chưa phát hiện trường hợp Họ - Dòng họ nào do cộng đồng gọi rồi sau đó họ chấp nhận và sử dụng([4]). Sau khi cư dân định cư ở khu vực ổn định, người đứng đầu, có uy tín – hiện nay thường gọi là già làng – sẽ đặt Họ cho cộng đồng. Cơ sở để lựa chọn tên Họ của cộng đồng có thể là lấy địa điểm cư trú, lấy tên một loài vật, lấy tên một đặc điểm địa hình để đặt. Chẳng hạn: Ở Bù Đốp có Họ tên là Bù Gia Măng – Măng là tên một dòng sông có đoạn chảy dọc biên giới Việt Nam Campuchia; ở Lộc Ninh có họ Bù Lay Có – nhóm cư dân sống ở vùng đồi và Bù Lay Đak – cư dân sống ở vùng trũng thấp; ở Phước Long có nhóm cư dân mang họ Dok – tên gọi của loài Vọt. Không chỉ đa dạng về dòng họ mà cách đặt tên và họ nhiều nhóm cư dân Xtiêng cư trú ở nhiều vùng khác nhau cũng có sự khác nhau. Đa số các Họ, Dòng họ khi đặt tên con thường theo một quy tắc chung là Họ và chữ “lót” hay tên đệm thì như nhau, hay nói cách khác, người mang họ và chữ lót là đồng nhất, chỉ khác nhau ở tên gọi. Ví dụ: Những người cùng Dòng họ Bù Lay thì các con cháu đều mang Họ Bù Lay, chỉ khác nhau ở tên gọi. Tuy nhiên, ở một số địa điểm có sự khác nhau. Chẳng hạn: ở ấp 9 xã Lộc Thuận huyện Lộc Ninh tỉnh Bình Phước, họ có dùng chữ lót để đặt. Đó là Họ Bud Đông Đen khi đặt tên cho con gái có chữ lót là Cơ, ở họ Srai Ngul thì dùng chữ A để làm chữ lót khi đặt tên cho con là nam. Khi đó, người mang Họ chỉ có Tên đầu của Họ, chữ lót và tên khác nhau. Chẳng hạn: Một người thuộc Dòng họ Bù Đông Đen nhưng khi đặt tên cho con gái chỉ còn lại Bù Cơ và tên gọi. Điều này tương tự như cách dùng chữ lót nam Văn và nữ Thị của người Kinh. Ở Sóc Bưng xã Thanh Phú thị xã Bình Long, tỉnh Bình Phước người Xtiêng lấy tên đặt trước, họ đặt sau. Cũng có nơi người Xtiêng ghép cả họ mẹ và họ cha để đặt tên cho con nhưng trường hợp này rất hiếm, chỉ xuất hiện trong thời kì ngày nay.

Trong quá trình sinh sống, các cư dân luôn có sự dịch chuyển cơ học, chủ yếu qua con đường hôn nhân, do đó mặc dù lúc đầu một sóc thường chỉ có một hai họ thì về sau số lượng Họ trong các sóc tăng lên đáng kể. Những người đi lấy vợ mang họ của mình đến sóc của vợ dẫn đến việc du nhập, phát triển Họ ra ngoài vùng cư trú cũ. Trên 10 địa điểm (xã, phường của các huyện thị trên địa bàn tỉnh Bình Phước) tác giả tiến hành khảo sát, địa điểm có nhiều họ nhất chính là xã Lộc Hòa huyện Lộc Ninh tỉnh Bình Phước, chỉ có 5 điểm cư trú – tương đương năm sóc nhưng có tới 14 họ, điều này chứng tỏ có sự dịch chuyển cơ họ khá lớn. Có những Họ được phát triển xa nơi cư trú cũ hơn 40km. Chẳng hạn như họ Chăng Ring có ở Sóc Bưng thị xã Bình Long và cũng có ở sóc Bưng Sê thị xã Đồng Xoài, hai điểm này cách xa nhau hơn 30km. Bên cạnh đó, một số địa điểm tác giả khảo sát thì được biết tại nơi đó người Xtiêng không có họ truyền thống, chỉ có Họ Điểu, Thị như đang dùng. Vấn đề này có lẽ họ quên, hoặc tác giả chưa tìm được người biết, hoặc có thể ở đây không có họ truyền thống.

Ngoài họ truyền thống hình thành từ lâu đời, người Xtiêng ở Bình Phước còn xuất hiện một số họ của người Việt (Kinh). Theo khảo sát ở các huyện Bù Đốp (ba địa điểm cư trú), huyện Bù Đăng (bốn địa điểm cư trú), thị xã Phước Long (một địa điểm cư trú),…nhiều người mang họ Trần, họ Lê. Khi phỏng vấn những người lớn tuổi như ông Điểu Cầy ở xã Thiện Hưng huyện Bù Đốp, ông Điểu Pal, ông điểu Tuốt ở xã Bình Minh huyện Bù Đăng, tác giả được biết đây là những Họ do chính quyền Ngô Đình Diệm đặt ra. Khi chính quyền Sài Gòn đặt hệ thống chính quyền tại một số điểm trên địa bàn tỉnh Bình Phước, họ thực hiện việc gom dân tạo thành các điểm cư trú tập trung, trong đó có cộng đồng Xtiêng, họ đã đổi Họ của người Xtiêng từ họ Điểu sang họ Trần và Lê. Hiện nay, ở Sóc Bom Bo xã Bình Minh vẫn còn người Xtiêng dùng chứng minh nhân dân mang họ Lê, như bà Lê Thị Chơ Rớch, sinh năm 1959.

Trong khi đó, ở Đồng Nai và Lâm Đồng, vấn đề họ truyền thống của người Xtiêng khá mờ nhạt. Đối với Đồng Nai, có một nhóm cư dân từ Bình Phước chạy lánh nạn chiến tranh từ Bù Đốp về sinh sống tại địa phương này thì hầu như cư dân không còn giữ được họ truyền thống, chủ yếu mang họ Điểu, Thị. Những người lớn tuổi biết về họ truyền thống cũng không còn nhớ được. Qua nghiên cứu, khảo sát thực tế tác giả ghi nhận được trước đây, trong chiến tranh chống Mỹ, nhóm Xtiêng này sinh sống ở khu vực Bàu Sấu – thuộc vùng lõi vườn quốc gia Cát Tiên ngày nay. Khu vực này có nhiều người Mạ sinh sống, họ mang họ K’. Do đó, người Xtiêng lấy họ K’ của người Mạ để sử dụng cho đến nay([5]).

Đối với nhóm cư dân ở Lâm Đồng, số lượng cư dân không lớn (khoảng hơn 130 hộ) và cũng chỉ từ Bình Phước di cư sang sinh sống từ lâu đời. Hầu hết họ sinh sống ở xã Phước Cát II huyện Cát Tiên tỉnh Lâm Đồng – dọc bờ sông Đồng Nai. Nơi đối diện một số xã ở tỉnh Bình Phước có người Xtiêng sinh sống. Hai nhóm cư dân này có quan hệ với nhau về mặt huyết thống, nhưng là bà con xa. Do đó Họ tộc và Dòng họ cũng có liên quan đến cộng đồng cư dân ở xã Đăng Hà, Thống Nhất huyện Bù Đăng tỉnh Bình Phước. Tuy nhiên, hiện nay cũng chủ yếu đều dùng họ Điểu và họ Thị, yếu tố Họ và Dòng họ truyền thống khá mờ nhạt, hầu như không còn giữ được.

Như vậy, qua những phân tích trên cho thấy vấn đề Họ tộc và Dòng họ của người Xtiêng là hết sức đa dạng, số lượng rất lớn, phạm vi phân bố khá rộng. Tuy nhiên, do tác động của điều kiện lịch sử, Họ của người Xtiêng đã có sự thay đổi đáng kể. Nếu ở các tỉnh Đồng Nai, Lâm Đồng, vấn đề Học tộc và Dòng họ truyền thống khá mờ nhạt, không còn duy trì được thì ở Bình Phước, vấn đề Họ tộc và Dòng Họ còn duy trì khá rõ nét. Trong văn hóa ứng xử, người Xtiêng vẫn duy trì những nét văn hóa truyền thống liên quan đến Họ tộc và Dòng họ của cộng đồng để giải quyết các mối quan hệ xã hội.

II. VĂN HÓA ỨNG XỬ CỘNG ĐỒNG LIÊN QUAN ĐẾN HỌ VÀ DÒNG HỌ CỦA NGƯỜI XTIÊNG

Văn hóa ứng xử cộng đồng liên quan đến dòng họ của người Xtiêng thể hiện qua nhiều lĩnh vực, góc độ cuộc sống hằng ngày của họ.

Ứng xử quan trọng nhất là vấn đề ứng xử trong hôn nhân. Người Xtiêng có quy định những người trong dòng họ cùng huyết thống thì trong phạm vi ba đời không được kết hôn với nhau. Do chế độ hôn nhân tính theo mẫu hệ nên quan hệ bên ngoại của cô dâu là quan trọng nhất. Do đó, trong lễ hỏi của người Xtiêng, vấn đề đầu tiên hai ông mai của hai bên làm khi hai gia đình gặp gỡ là phải kể về lịch sử của cô dâu – chú rể, lịch sử của dòng họ liên quan đến cô dâu, chú rể và gia đình hai bên. Ông mai bên nhà gái sẽ nói trước theo trình tự từ lịch sử của bố cô dâu, mẹ cô dâu ngược về ông bà ngoại, ông bà nội của cô dâu, mối quan hệ giữa cô dâu và các mối quan hệ của những người thân trong dòng họ. Sau đó, đến lượt ông mai bên phía chú rể cũng làm tương tự. Sau khi kết thúc phần kể lịch sử dòng họ của hai ông mai, nếu hai bên hoàn toàn không có quan hệ dòng họ thì vấn đề kết hôn của cô dâu chú rể tương lai không có vấn đề gì. Lễ cưới sẽ được diễn ra bình thường theo phong tục truyền thống. Tuy nhiên nếu lịch sử Dòng họ có quan hệ gần gũi thì rõ ràng việc kết hôn của hai người cần xem xét kỹ, tùy vào mức độ thân thiết của mối quan hệ để hai bên gia đình quyết định hôn nhân có được tiến hành hay không. Trong trường hợp hai ông mai xác định cô dâu và chú rể có quan hệ huyết thống trong phạm vi ba đời thì việc kết hôn sẽ không được tiến hành. Tất nhiên, những lễ vật là động vật do nhà gái mang sang nhà trai để chuẩn bị cho lễ hỏi sẽ được hai bên gia đình giết mổ, chế biến và đãi khách, không được mang về. Nếu có quan hệ dòng họ ngoài phạm vi huyết thống ba đời, việc cưới sẽ vẫn được tiến hành. Tuy nhiên, các lễ vật dùng để đãi khách (là động vật) nhà trai mang qua nhà gái đều phải màu trắng. Thường là một con (hoặc một cặp) trâu trắng, con gà màu trắng, con heo màu trắng,… Những con vật như Gà, Heo còn dễ tìm con màu trắng nhưng trâu trắng thì khá hiếm, việc tìm kiếm khá khó khăn, giá trị của loại trâu này cũng đắt gấp ba lần trâu thường, chi phí cho lễ cưới sẽ tăng lên rất nhiều. Khi nhìn vào những lễ vật do bên nhà trai mang qua nhà gái, những người dân trong sóc có thể biết được đám cưới có quan hệ dòng họ hay không.

Quan hệ ứng xử của những người trong gia đình liên quan đến Họ và Dòng họ còn thể hiện ở góc độ giao tiếp hằng ngày. Từ sau khi lễ hỏi kết thúc, người chồng và người vợ tuyệt đối không được gọi tên của nhau, chỉ được gọi qua đại từ nhân xưng “Sai Utl” giành cho vợ và “Sai Lâu” cho đến suốt cuộc đời. Người con dâu không được gọi tên bố mẹ chồng và những người cùng cấp, người con rể cũng tuyệt đối không được gọi tên của bố mẹ vợ và những người cùng cấp trở lên. Khi giao tiếp, những người con, cháu chỉ được gọi tên theo mối quan hệ, vai trò của người được gọi. Chẳng hạn: Mêy – tức mẹ, Vớb - Cha, Yau clâu – ông, Yau uatl - bà, Wa – chú, Dì – Mêy. Những quy ước này bắt buộc mọi người có liên quan phải tuân thủ tuyệt đối, không một ai được vi phạm, nếu vi phạm sẽ bị phạt thật nặng. Phong tục này của người Xtiêng thể hiện sự kính trọng của người có bậc thấp hơn với người lớn tuổi, bậc bề trên.

Khi hai vợ chồng sinh con, vấn đề lấy họ để đặt tên cũng được quy định khá đa dạng. Về cơ bản, nếu người Xtiêng kết hôn với nhau thì việc lấy họ để tên cho con được thực hiện theo truyền thống, vì theo chế độ mẫu hệ nên khi con được sinh ra đều phải mang họ mẹ. Trong trường hợp người Xtiêng kết hôn với những cư dân thuộc các cộng đồng cư dân khác, thì tùy vào phong tục tập quán mà có sự khác nhau: đàn ông Xtiêng khi lấy vợ là người Kinh (Việt) thì vẫn giữ họ Điểu, ngược lại người đàn ông Việt lấy vợ người Xtiêng nhưng con sinh ra vẫn mang họ của người Việt, nhưng những trường hợp này khá cá biệt, không phổ biến lắm; trường hợp người Xtiêng kết hôn với người Mạ, người Mnông, người Khmer thì họ của con vẫn mang họ mẹ như truyền thống. Bởi vì ba cộng đồng cư dân này cùng tồn tại chế độ mẫu hệ.

2018.06.05 bài Hội thảo VNH lần V PIC2.PNG
Tác giả cùng Già làng tại xã Lộc Hòa

Đối với cộng đồng, mối quan hệ giữa các dòng họ cùng cư trú trong một sóc là tương đối bình đẳng. Trong một nhóm cộng đồng (sóc), dù có nhiều dòng họ cùng sinh sống những mối quan hệ giữa các dòng họ là như nhau về quyền lợi và nghĩa vụ. Không có sự phân biệt nào, không phân biệt dân “ngụ cư” và “dân gốc” như một số cộng đồng cư dân khác. Mở rộng ra, ở phạm vi giữa các sóc với nhau, người Xtiêng không có sự phân biệt về việc dòng họ nào là dòng họ lớn, dòng họ nào là dòng họ nhỏ, dòng họ nào quan trọng hơn dòng họ nào. Mọi người sống trong cùng một sóc phải thương yêu nhau, phải có trách nhiệm giúp đỡ nhau. Khi có những hoạt động lớn của sóc, khách mời từ các sóc khác đến đều được tôn trọng, quý mến. Đối với những thành viên thuộc các dòng họ khác khi chuyển cư trú từ sóc này sang sóc khác vì nhiều lý do (chủ yếu là từ hôn nhân) thì thành viên của dòng họ mới đó cũng được đối xử như một thành viên trong sóc.

Có một trường hợp khá đặc biệt về việc thay đổi Họ của cộng đồng cư dân này. Trước đây, người Xtiêng còn duy trì chế độ nô lệ([6]) (có thể là tù binh bắt được trong các cuộc chiến giữa các nhóm cư dân, có thể là do nợ nần,…) và vấn đề Họ của cộng đồng cư dân này cũng có những phong tục mang tính quy định liên quan. Khi một người nào đó mượn nợ một người khác, đến kì hạn trả nhưng người mượn nợ không trả, chủ nợ sang đòi nhưng người mượn nợ cũng không có khả năng để trả nợ thì chủ nợ sẽ bắt con của người mượn nợ về để làm nô lệ. Kể từ đây, gia đình có con bị bắt là vĩnh viễn mất đi người con đó. Từ khi bị bắt về, người này nô lệ sẽ mang họ của chủ nợ. Sau một thời gian làm việc, khi nợ đã được trừ hết thì người nô lệ trở thành thành viên trong gia đình, được chủ nợ coi như con và được hưởng các quyền lợi như các thành viên khác trong gia đình. Khi lớn lên, người nô lệ trước kia được người chủ xây dựng hôn nhân cho. Trong trường hợp về lấy vợ tại sóc cũ, vấn đề họ tộc và dòng họ được tiến hành theo truyền thống: Không được lấy người cùng huyết thống trong phạm vi ba đời. Tuy nhiên, có thể do đi xa sóc lâu ngày, việc ghi nhớ dòng họ sẽ khó khăn hơn, do đó lúc này vai trò của ông mai là rất quan trọng, đặc biệt là ông mai của người kết hôn nơi sóc với người nô lệ trước kia.

Một điều hết sức lưu ý trong văn hóa ứng xử của người Xtiêng với cộng đồng chính là việc rất nhiều Dòng họ có những điều kiêng kị một số món ăn nhất định (xem bảng thống kê kèm theo). Chẳng hạn như dòng họ Bù Lay Đak cữ không ăn bí đao, Bù Lay Có cữ ăn rắn Hổ hành, Dòng họ Bù Dông không ăn đọt mây, Dòng họ Chăng Ding không ăn con trăn,… Do vậy, ngày nay trong quá trình hoạt động sống và giao tiếp với các cộng đồng cư dân khác, vì một lý do nào đó mà lỡ ăn phải các món nằm trong những điều kiêng kị của Dòng họ của người đó, thì sau khi về nhà họ phải làm lễ cúng. Cách thức cúng cũng khá đơn giản, họ lấy một phần của vật kiêng cữ của Dòng họ (thường là phần ngọn, phần đầu của cây hoặc con vật) đặt lên một cái đĩa và đặt ở giữa nhà, mời thầy cúng về để làm lễ cúng xin thần linh tha thứ. Sau khi thực hiện xong nghi lễ này, mọi việc coi như không có gì xảy ra. Nếu người nào mà lỡ ăn phải nhưng không thực hiện nghi lễ này thì sức khỏe của người đó sẽ bị thần linh trừng phạt gây ốm đau, thậm chí dẫn đến chết. Tuy nhiên, cũng có Dòng họ tuyệt đối không được ăn phải vật mang điều cấm kỵ của dòng họ, vì khi ăn phải thì hoàn toàn không có hình thức nào để hóa giải. Khảo sát thực địa về những điều cấm kỵ, tác giả cho rằng đây chính là những món ăn gây dị ứng cho con người. Tuy nhiên, trước đây do chưa có khoa học giải thích nên họ giải thích theo phương án kiêng kỵ. Hiện nay, mặc dù các giấy tờ, văn bản hành chính đều mang họ Điểu nhưng trong tâm thức, văn hóa cộng đồng người Xtiêng vẫn giữ văn hóa Họ và Dòng họ của cộng đồng, thực hiện đầy đủ những điều điều kiêng như trên. Do đó, những ai khi giao tiếp với người Xtiêng (đặc biệt trong ăn uống) với người Xtiêng để tránh những điều cấm kỵ để hạn chế việc tạo ra những điều hiểu nhầm gây bất đồng lẫn nhau không cần thiết.

Như vậy, có thể thấy rằng, Họ tộc, Dòng họ và văn hóa ứng xử cộng đồng liên quan đến Dòng họ của người Xtiêng hết sức phong phú, đa dạng, chứa đựng nhiều giá trị văn hóa nhân văn. Ngày nay, mặc dù do tác động của yêu tố lịch sử, người Xtiêng chỉ sử dụng họ Điểu, họ Thị để làm hộ tịch hộ khẩu và tiến hành các giao tiếp xã hội. Tuy nhiên, những giá trị văn hóa liên quan đến Họ và Dòng họ vẫn được người Xtiêng duy trì để ứng xử và giải quyết một số vấn đề mang tính truyền thống của người Xtiêng, đặc biệt là trong hôn nhân, trong ăn uống. Hiểu được văn hóa ứng xử liên quan đến Họ và Dòng họ của người Xtiêng, chúng ta có một cách nhìn, cách ứng xử phù hợp hơn với người Xtiêng trong giao tiếp hằng ngày cũng như trong công việc./.

ThS. Phạm Hữu Hiến

Bảo tàng tỉnh Bình Phước

DANH SÁCH CÁC HỌ/DÒNG HỌ CỦA NGƯỜI XTIÊNG Ở BÌNH PHƯỚC
(qua khảo sát của tác giả năm 2015-2016)

STT

ĐỊA ĐIỂM

HỌ/DÒNG HỌ

KIÊNG KỴ

GHI CHÚ

1

X. Lộc Thuận, H.Lộc Ninh, T.Bình Phước

- Bù Túc

- Bù Đong Đen

- Srai

- Ngul

 

Người cung cấp: Thị Hồng

2

X.Lộc An, H. Lộc Ninh, T.Bình Phước

- Bù Lay Đak

- Bù Dông

- Bù Đút

- Bù Lay Có

- Bí xanh, rắn Heo

- Đọt mây

Người cung cấp: Điểu Bước, Điểu Sơn

3

X.Lộc Hòa, H. Lộc Ninh, T.Bình Phước

- Bù Dông

- Bù Lay

- Bù Kal

- Bù Đút

- Bù Dông Bù Non

- Đơn Mơl

- Chăn Pon Pial

- Sray Bù Sroong

- Bù Săn Rai

- Bù Đôn Rôm

- Bù nial

- Bù Gia Ri

- Bù Dông Rên

- Bù Dông Nhá

- Rắn đen, đọt mây ngọt

- Chuối rừng

- Cây và củ môn

- Mèo, cọp, cá sấu

- Mễn, Nhím

 

- Không cữ

- Cóc rừng

- Không cữ

 

- Lươn

- Nhím, Mễn

- Cóc rừng

- Trăn

- Con Nanh, Đọt mây

Người cung cấp: Điểu Hum

4

X. Lộc Quang, H.Lộc Ninh, T.Bình Phước

Không có họ

 

Người cung cấp: Điểu Đay

5

  X.Bình Minh, H. Bù Đăng, T.Bình Phước

 

 

 

 

 

- Bum bor có

- Bum Bor Đâm

- Đâm Bla

 

 

- Cữ Càng tôm, Kì đà

- Càng tôm, Lươn

- Đọt mấy đắng: Cưl  Sia

 

 

6

X.Thọ Sơn, H.Bù Đăng, T. Bình  Phước

- Bù Dố

- Càng Tôm

Người cung cấp: Điểu Krươi, Điểu Xia

7

X.Phước Sơn, H. Bù Đăng, T.Bình Phước

- Bù Có 1

- Bù Có 2

- Càng Tôm

- Lươn, Càng Tôm

Người cung cấp: Điểu Krươi

8

X.Đồng Nai, H. Bù Đăng, T.Bình Phước

- Bù Lôn

- Bù Đách

- Bù Xóp

- Bon NDReng

- Bù Rul

 

 

 

 

 

Người cung cấp: Điểu Khuê

9

X.Thanh Phú, Tx. Bình Long, T.Bình Phước

- Ma Prắc Glay

- Ma Prắc Srai

- Nhi Vri

- Chăng Ding

- Môn

- Không nhớ

- Cây mướp nước

- Bí

Người cung cấp: Điểu Tử

10

X.Long Giang, Tx.Phước Long, T.Bình Phước

- Bù Dốc

-

 

 

Người cung cấp: Điểu Huyền Lít

11

X.Tân Thành, Tx.Đồng Xoài, T.Bình Phước

- Banl Nhral

- Nhroanh

- Banl Play

- Chăng Ding

- Chăng Tơrl

- Bva Khoanl

- Chăng Rai

- Lươn, kì đà nước

- Cá sấu

- Môn, đọt mây đắng

- Trăn

- Không nhớ

- Không nhớ

- Không nhớ

Người cung cấp: Điểu S’rem

12

X. Thuận Lợi, H.Đồng Phú, T.Bình Phước

Không trả lới phỏng vấn

 

Người được hỏi: Điểu Tô

13

X.Tà Lài, H.Tân Phú, T.Đồng Nai

Họ K’

Không có kiêng cữ

Già K’Lư



[1] Số liệu thống kê năm 2015;

[2] Báo cáo khoa học “Ứng xử với môi trường tự nhiên của người Xtiêng Bình Phước” – Dự án thuộc chương trình mục tiêu quốc gia 2011;

[3] Báo cáo khoa học “Phục dựng lễ hội lập làng mới của người Xtiêng Bình Phước”, năm 2012;

[4] Phan Văn Dốp, “Người Tà Mun ở Đông Nam Bộ: quan hệ tộc người và tộc danh” – Hội thảo khoa học “Khoa học xã hội và phát triển bền vững” – năm 2012;

[5] Khảo sát của tác giả tại thực địa năm 2016;

[6] Gerber, Luật phong tục của người Xtiêng.

Lượt xem: 888

  • File đính kèm:

Bookmark and Share

Bình luận

chỉ mục.jpg

       Bảo tàng tỉnh Bình Phước

Đường Hồ Xuân Hương, phường Tân Phú ,
thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước

Email: baotangbinhphuoc@gmail.com
Điện thoại: 0271 6502 333 - 0271 3870 690

Giờ mở cửa
từ 8h-17h từ thứ Hai đến Chủ nhật
(Cả ngày Lễ và Tết)

>>> Đường tới Bảo tàng

TÌM-HIỂU-90-NĂM-LỊCH-SỬ-ĐẢNG-1.gif

HCM1.gif

Hệ thống mail công vụ 01.gif

covid-19.gif

LIÊN KẾT WEBSITE

Liên kết website ngành

Liên kết website trong tỉnh

Các Tạp chí văn hóa

THỐNG KÊ TRUY CẬP

Đang online: 1

Hôm nay: 158

Lượt truy cập: 346.750