banner_nomal-01.gif

Search

LỄ HỘI LẬP WĂNG - POH MỚI CỦA NGƯỜI XTIÊNG Ở BÌNH PHƯỚC

Dân tộc Xtiêng là một trong 54 dân tộc trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Đây là một trong các dân tộc đã sinh sống lâu đời ở vùng Đông Nam Bộ, địa bàn cư trú chủ yếu ở các tỉnh Bình Phước, Đồng Nai, Bình Dương, Tây Ninh và Lâm Đồng, trong đó Bình Phước là tỉnh có số dân đông nhất với hơn 85.000 người([1]), họ cư trú phân bố đều khắp trên 11 huyện, thị xã của tỉnh. Văn hóa truyền thống của người Xtiêng ở Bình Phước rất phong phú, giàu bản sắc. Trong lễ hội truyền thống, họ có Lễ hội lập làng mới là một trong những lễ hội có quy mô lớn của cộng đồng cư dân này.

Đây cũng là một lễ hội khá đặc biệt bởi hai nghi lễ của lễ hội cách nhau khoảng thời gian khá dài (thường là khoảng 3 năm), bắt đầu từ Lễ chọn đất lập làng và kết thúc bằng lễ Ăn mừng làng (sóc) mới. Quy trình và diễn biến cụ thể của lễ hội như sau:

1. Lễ chọn đất

Người Xtiêng ở Bình Phước có tập quán cư trú tập trung thành các Poh (đối với cách gọi của người Xtiêng nhánh Bù Lơ) và Wăng (đối với cách gọi của người Xtiêng nhánh Bù Đek)([2]), người Việt thường gọi chung là Sóc. Mỗi sóc có khoảng từ 20 hộ đến 30 hộ có quan hệ huyết thống. Nhà ở của người Xtiêng nhánh Bù Lơ là kiểu nhà trệt dài (nhiều người quen gọi là nhà dài)([3]) với nhiều gia đình của nhiều thế hệ cùng cư trú, trong khi đó người Xtiêng nhánh Bù Đek cư trú trong các ngôi nhà sàn với quy mô hộ gia đình nhỏ hơn. Nơi cư trú của người Xtiêng khá ổn định, sự di cư là điều ít diễn ra. Trong tập quán canh tác truyền thống, mỗi người trong cuộc đời thường có từ ba đến bốn mảnh đất để canh tác và thực hiện theo một chu kì nhất định. Khi bắt đầu lập nghiệp, họ chọn cho mình một vùng đất gần nơi ở để canh tác. Sau khoảng ba đến bốn năm, khi đất đã bạc màu, họ đi tìm và lựa chọn một địa điểm khác để canh tác và khi đất bị bạc màu họ lại tiếp tục đi tìm một khu vực khác để canh tác. Sau lần thay đổi đất canh tác lần thứ ba hoặc lần thứ tư, họ quay trở lại mãnh đất đã canh tác ban đầu để tiếp tục canh tác và cứ thế tiếp tục chu trình vòng quay thay đổi địa điểm canh tác đối với những mãnh đất đã được canh tác và bỏ hoang trước đó. Vòng quay canh tác kiểu này theo họ suốt cuộc đời của một con người. Quá trình canh tác đó, họ có thể làm một căn chòi và ở ngoài rẫy cho đến khi hết mùa thì trở về với bản làng nơi ở chính của họ. Do đó, có thể nói rằng đặc điểm cư trú của người Xtiêng có sự du cư, du canh nhưng chỉ mang tính tương đối. Với canh tác họ chỉ xoay quanh những mảnh đất đã canh tác. Trong cư trú, tính ổn định thể hiện rõ hơn. Họ chỉ thực sự di dời địa điểm cư trú – sóc khi có những hiện tượng tác động làm ảnh hưởng đến sức khỏe và cuộc sống của cộng đồng. Chẳng hạn như: cư dân trong sóc đột nhiên có bệnh dịch làm chết nhiều người, sóc bị hỏa hoạn thiêu rụi toàn bộ sóc (các nhà ở thường làm ở gần nhau với chất liệu là tranh tre nên khi cháy thường cháy lan cả sóc).…([4]). Khi gặp những hiện tượng bất lợi đó và để quyết định việc di dời sóc, những người lớn tuổi trong sóc sẽ họp với đại diện các hộ gia đình trong sóc để bàn bạc việc di dời chỗ ở. Khi các hộ gia đình đã đồng ý, họ sẽ định ngày phân công cho các hộ gia đình chuẩn bị các lễ vật và những vật dụng cần thiết để đi tìm chổ ở mới. Tùy vào mỗi nơi, lễ vật có sự khác nhau đôi chút, nhưng cơ bản đều phải có một con gà sống, một ít gạo, một ít cau trầu, một tố rượu cần. Ngoài ra còn chuẩn bị một số vật dụng cần thiết khác để sử dụng trong khi đi chọn đất như: Chà Gạt, Dao Côi…Đến ngày đã định, ngay từ sáng sớm già làng cùng với đại diện các hộ gia đình bắt đầu tiến hành cuộc đi tìm địa điểm cư trú mới. Quá trình đi, các nhóm cư dân tuân thủ theo một số nguyên tắc nhất định, tùy vào phong tục của mỗi nơi, có nơi như ở vùng Hớn Quản người dân trong suốt thời gian đi tìm đất lập làng, tất cả những người đi trong đoàn đều phải tuyệt đối giữ im lặng([5]), không ai được nói gì vì sợ thần linh trách phạt; có nơi như ở Bù Đốp, Bù Gia Mập thì ngược lại, mọi người cứ đi và nói chuyện bình thường, không cần giữ yên lặng([6]).

Phạm Hữu Hiến 01 - 01.png

Lễ chọn đất (Ảnh Bảo tàng Bình chụp tháng 8 năm 2012)

Điều kiện để chọn nơi lập làng là phải bằng phẳng, gần nơi canh tác, gần rừng tự nhiên để thuận tiện trong việc khai thác nguồn lợi từ tự nhiên và phải có nguồn nước để sử dụng. Đặc biệt, địa điểm lựa chọn để lập làng (sóc) mới phải tuân thủ một số điều kiêng kỵ nhất định. Đó là: không được chọn nơi có nhiều cây cổ thụ, nơi có nhiều đá lớn, nơi đầu nguồn các con suối….Họ quan niệm rằng những nơi đó là nơi thần linh an ngự, nếu cư trú ở đó sẽ làm ảnh hưởng đến thần linh, phạm đến và sẽ bị thần linh trách phạt. Tuy nhiên, xét về góc độ khoa học, việc họ không lựa chọn những địa điểm nói trên để cư trú là có những lý do hết sức hợp lý khoa học. Chẳng hạn: cư trú ở nơi có nhiều cây cổ thụ sẽ có nguy cơ gãy đổ vào mùa mưa bão, đe dọa đến sự an toàn của mọi người trong quá trình sống và sinh hoạt; hay cư trú ở nơi nhiều đá lớn sẽ không thuận lợi cho việc xây dựng nhà ở, khó khăn cho việc đi lại hằng ngày; cư trú ở đầu nguồn nước thì quá trình sinh hoạt của cư dân trong sóc sẽ gây ra ô nhiễm môi trường, ô nhiễm nguồn nước mà cộng đồng dùng để sinh hoạt, ăn uống và canh tác….Vì vậy, với những điều kiện như trên thì không dễ để họ lựa chọn một địa điểm cư trú phù hợp. Để đi tìm được địa điểm đạt những yêu cầu trên, nhiều khi họ phải đi từ hai đến ba ngày, trải qua nhiều nơi mới chọn được một địa điểm phù hợp. Tuy nhiên, đây cũng chỉ là lựa chọn bước đầu.

Khi đoàn đi tìm nơi ở mới lựa chọn được một địa điểm nào đó thích hợp, họ sẽ dùng Chà gạt dọn một khu đất rộng đủ để mọi người làm lễ chọn đất. Sau khi thực hiện xong các công việc chuẩn bị, già làng sẽ tiến hành các nghi thức, nghi lễ cúng thần linh. Người này chặt một đoạn tre dài khoảng 1,5m, một phần thân tre (khoảng 0,8m) được giữ nguyên và cắm xuống đất, phần còn lại chẻ làm bốn, mỗi phần được vót nhọn ở đầu rồi uốn cong ngược ra phía ngoài và cắm xuống đất. Chính giữa cây tre có cắm một cây bông cao khoảng 0,6m đến 0,8m làm bằng một thanh tre vót kỹ, chẻ đôi phần đầu rồi lấy một ít cỏ dại để cài vào tạo bông. Đây là vật dụng có chức năng như cây nêu và thay thế cây nêu trong nghi lễ cúng thần linh để chọn đất ở của người Xtiêng, họ gọi cây Capry. Sau đó, họ đặt lễ vật gồm một ché rượu cần nhỏ, làm thịt con gà mang theo và lấy máu của con gà mang theo để rưới lên cây bông đã tạo trước đó để cúng thần linh. Mọi người ngồi xung quanh lễ vật, người chủ lễ vừa đi xung quanh vừa khấn xin thần linh cho người dân được cư trú tại khu vực này. Sau khi già làng khấn xong, những người cùng đi sẽ dùng gạo mang theo rải vào khu vực lễ vật và cùng khấn xin như chủ lễ. Sau khi hoàn thành lễ cúng, họ làm thịt con gà mang theo để nướng và cùng ăn uống rồi ra về.

Sáng hôm sau, những người đi tìm nơi ở mới sẽ tập trung lại và kể cho nhau nghe những giấc mơ mà họ đã gặp được trong đêm. Nếu tất cả đều mơ thấy những điều tốt như: mơ thấy dòng nước trong, thấy hái được trái cây chín…tức thần linh đã cho phép cư dân cư trú ở địa điểm đó. Ngược lại nếu có một ai đó mơ thấy những điều không tốt như: dòng nước đục, thấy giết mổ trâu, ăn thịt trâu…họ sẽ phải tiến hành đi tìm nơi cư trú mới với quy trình như lần đi ban đầu cho đến khi tìm được mới thôi.

Khi đã tìm được địa điểm cư trú mới, các gia đình lần lượt làm nhà và di dời địa điểm cư trú mới. Việc làm nhà mới của người dân không phải tuân theo một quy định hay nguyên tắc cụ thể nào, ai có điều kiện thì làm nhà trước, ai chưa có điều kiện thì làm nhà sau, cứ như thế cho đến khi nào các cư dân trong sóc đã di dời hết, việc di dời mới được coi là hoàn thành.

2. Lễ ăn mừng Wăng - Poh mới

Tại điểm cư trú mới, một trong những việc họ phải làm là tiến hành chăn nuôi các loại gia súc, gia cầm như: Heo, gà, trâu để chuẩn bị cho lễ ăn mừng Wăng - Poh mới. Sau khi cư trú tại địa điểm mới khoảng ba năm, nếu trong suốt quá trình cư trú người dân không còn gặp những điều bất lợi ảnh hưởng đến cuộc sống của người dân như địa điểm cư trú cũ, tức là nơi đó có thể cư trú lâu dài được, họ sẽ tổ chức lễ ăn mừng Wăng - Poh. Ngược lại, nếu nơi ở mới, người dân vẫn tiếp tục gặp những rủi ro như trước thì họ sẽ phải đi tìm nơi ở mới với quy trình như trước và cứ thế cho đến khi nào có được nơi ở ổn định và an toàn theo quan niệm của họ.

Phạm Hữu Hiến 01 - 02.png

Nghi thức đón tiếp trong lễ hội. (Ảnh Bảo tàng Bình Phước chụp năm 2012)

Lễ ăn mừng Wăng - Poh mới (còn gọi là lễ Nhiệt Rông Xa Cất)([7]), là nghi lễ cuối cùng trong chuỗi các nghi lễ của lễ hội lập làng mới của người Xtiêng. Để chuẩn bị cho lễ hội này, già làng sẽ họp các gia đình trong sóc lại để thống nhất thời gian chuẩn bị, phân công cho các gia đình chuẩn bị các lễ vật phù hợp với điều kiện của từng gia đình, đồng thời cử người tiến hành đi mời khách ở các nơi khác về tham dự lễ hội.

Lễ vật trong lễ cúng thần linh trong lễ hội lập Wăng - Poh mới gồm có:

- Một con trâu: Dùng để làm lễ cúng tế thần linh và sau đó chế biến để cùng ăn uống tại lễ hội. Đây là lễ vật quan trọng nhất và không thể thiếu trong lễ hội. Trâu được chọn để làm lễ hiến sinh phải là trâu đực, có sừng to và cong, có vóc dáng lớn, vai lớn. Họ quan niệm rằng lựa chọn con trâu càng có đủ điều kiện như trên thì mới thể hiện tấm lòng thành kính của người dân đối với thần linh. Lễ vật này thường do già làng – người có uy tín nhất trong sóc chuẩn bị và nuôi từ những năm trước đó, từ khi bắt đầu tới ở nơi Wăng - Poh mới.

- Một con heo: cũng là lễ vật dùng để hiến tế thần linh trong lễ hội.

- Làm cây nêu: Cây nêu được làm từ trước khi diễn ra lễ hội vài ngày, cũng là vật lễ không thể thiếu trong lễ hội, là cầu nối giữa con người với thế giới thần linh. Do đó, cây nêu được làm hết sức cầu kỳ, có giá trị nghệ thuật và thẩm mỹ cao. Đây là vật lễ có nhiều chức năng, vừa chứa đựng, truyền tải những ý nguyện của người dân với thần linh, vừa thể hiện các quan niệm thẩm mỹ và nhân sinh quan của cộng đồng cư dân này.

- Rượu cần: Mỗi nhà tự chuẩn bị một đến hai ché, lớn hay nhỏ tùy và nhu cầu và khả năng của từng hộ gia đình, riêng nhà già làng thường phải chuẩn bị nhiều hơn để tiếp đãi khách mời trong lễ hội. Rượu cần phải được chế biến ít nhất một tháng trước khi diễn ra lễ hội thì mới có thể đem dùng được, nếu để càng lâu thì rượu càng ngon.

- Cơm ống: Hay còn gọi là cơm Lam. Mỗi gia đình tự chế biến và mang đến lễ hội để sử dụng. Riêng cơm ống để cúng thần linh trong lễ hội thường thì do già làng chuẩn bị.

- Cau trầu: dùng để mời khách mời là phụ nữ tại nghi lễ đón tiếp. Thường công việc này do phụ nữ chuẩn bị.

- Thuốc lá: Dùng để mời khách đến dự lễ. Loại thuốc lá người dân tự trồng để sử dụng. Lá thuốc sau khi được lấy và phơi khô, họ dùng một loại lá cây làm vật liệu để vấn thành điếu, sau đó các điếu thuốc được xếp và kẹp thành hàng trên một thanh tre. Công việc này thường do những người đàn ông trong Wăng - Poh đảm trách.

Lễ hội được tổ chức ở khu vực sân ở phía trước nhà của già làng. Thời gian tổ chức lễ hội không có quy định cụ thể, có thể tổ chức ở bất kì thời gian nào trong năm, tuy nhiên đa số đều tổ chức vào dịp tháng 2 hoặc tháng 3 vì đây là thời điểm ở Đông Nam Bộ đang vào mùa nắng, do đó ít bị thời tiết (trời mưa) gây khó khăn cho người dân trong quá trình tổ chức lễ hội. Thời gian tiến hành lễ hội thường bắt đầu từ buổi chiều và kéo dài đến đêm, có khi kéo dài đến sáng ngày hôm sau, tùy vào quy mô của lễ hội được người dân tổ chức và nhu cầu giao lưu của người dân đi tham dự lễ hội. Đến ngày tổ chức lễ hội, các lễ vật đã được người dân chuẩn bị (trâu, heo, rượu cần, cơm ống….) sẽ được đưa tập trung về khu vực lễ hội để cúng thần linh.

Trước khi tiến hành cúng tế thần linh, cư dân trong sóc tổ chức nghi thức đón tiếp đại biểu khách mời với nghi thức long trọng. Ở đầu ngõ ra vào của sóc, đội cồng chiêng và đội múa đứng thành hai hàng ở hai bên đường (đội cồng chiêng đứng bên trái và đội múa đứng bên phải). Đứng đầu hàng phía đội cồng chiêng là người đàn ông cầm xâu thuốc lá và cây đuốc để mời khách là những người đàn ông đến dự lễ hội, đứng đầu hàng phía đội múa là người phụ nữ bưng khay trầu để mời khách nữ đến dự lễ hội. Khách đến lễ hội khi đi qua lối dẫn vào khu vực lễ hội, họ sẽ được mời trầu, mời thuốc và được đội cồng chiêng, đội múa biểu diễn liên tục để chào mừng. Nghi thức này bắt đầu thực hiện khi có vị khách đầu tiên đến dự lễ hội và kéo dài cho đến khi nào các vị khách mời đã đến đông đủ, thường kéo dài khoảng gần một giờ đồng hồ.

Tại khu vực lễ hội, một cây nêu đã dựng sẵn, con trâu dùng để hiến tế thần linh cũng được buộc vào cọc cẩn thận, một chiếc bàn tre nhỏ cao khoảng 1m trên đó có để hai ché rượu cần, vài ống tre đựng đầy nước để uống rượu cần, một ít ống cơm đã nấu chín. Đặc biệt, một chiếc Chà gạt và một Cây lao (hai dụng cụ dùng để đâm trâu trong lễ hiến sinh) dựng sẵn bên chiếc bàn lễ. Sau khi người dân trong sóc và khách mời đã tập trung đông đủ ở khu vực lễ hội. Đến thời khắc thích hợp đã được ấn định, già làng và cũng là chủ lễ sẽ tiến hành các nghi thức cúng thần linh. Đầu tiên, một vị già làng dẫn đầu đội cồng chiêng và đội múa đi vòng (thường là đi ba vòng) quanh khu vực làm lễ, vừa đi vừa biểu diễn cồng chiêng, đội múa vừa đi vừa múa theo nhịp cồng chiêng (nếu có tù và hoặc khèn thì cũng sẽ đi và cùng trình diễn). Sau khi tiến hành xong nghi thức này, vị già làng sẽ tiến đến bên cây nêu, mặt quay về phía đông và nhìn lên ngọn cây nêu, đọc lời khấn mời thần linh về chứng kiến và hưởng những lễ vật do dân làng dâng cúng, cầu xin thần phù hộ cho người dân được sống bình an, hạnh phúc.

Sau đó vị chủ lễ cầm cây Lao cùng với một vị già làng nữa cầm Chà gạt, tiến hành nghi lễ hiến sinh – đâm trâu để dâng cúng thần linh. Khi đâm trâu xong, già làng tiếp tục mời một vị đại diện khách mời dùng dao giết heo để tiếp tục làm lễ hiến thần linh, việc mời khách giết heo vừa để cúng thần linh nhưng vừa thể hiện sự trân trọng, quý mến khách mời của dân làng.

Nghi lễ cúng thần linh kết thúc, già làng sẽ mang các lễ vật đã dâng cúng thần linh như: Rượu cần, cơm ống để cùng ăn, uống rượu với các vị khách mời. Song song đó, một số thanh niên và những người có kinh nghiệm xẻ thịt trâu thành từng miếng nhỏ, xâu lại thành xâu rồi mang đi nướng để cùng nhau múa hát ăn mừng. Bên đống lửa bập bùng, trong tiếng cồng chiêng rộn rã, mọi người cùng múa, cùng hát, cùng uống rượu mừng sóc mới được chính thức thành lập. Một không khí vui tươi tràn về sóc mới, niềm hân hoan hiện rõ trên từng nét mặt của mỗi người. Sau lễ hội này, theo quan niệm của họ, Wăng - Poh cư trú mới của người Xtiêng mới chính thức thành lập, người dân mới thực sự bắt đầu cuộc sống ổn định lâu dài, chấm dứt những tháng ngày lo toan vất vả.

Có thể nói rằng, lễ hội lập sóc mới của người Xtiêng ở Bình Phước là lễ hội hết sức độc đáo, thể hiện qua cách tổ chức lễ hội, nội dung của lễ hội và thời gian tổ chức lễ hội. Trong đó, thời gian tổ chức lễ hội là khá đặc biệt, hai nghi lễ cách nhau ba năm, bắt đầu từ lễ chọn đất lập làng và kết thúc bằng lễ ăn mừng sóc mới. Về phương diện văn hóa, lễ hội chứa đựng nhiều giá trị văn hóa và nhân văn sâu sắc. Lễ hội là dịp để người dân thể hiện đạo lý uống nước nhớ nguồn (tưởng nhớ các đấng bề trên, thần linh đã phù hộ che chở cho dân làng). Lễ hội cũng là dịp để người dân duy trì và bảo tồn các thành tố văn hóa truyền thống có giá trị tiêu biểu, đặc trưng như: các loại ẩm thực truyền thống (cơm ống, rượu cần, các món nướng…), các nghề truyền thống, các tri thức dân gian (sự nhận biết về địa điểm cư trú thích hợp, tri thức về mối quan hệ ứng xử với môi trường tự nhiên….).

Ngày nay, do điều kiện xã hội có nhiều thay đổi, cư dân đã sống ổn định lâu dài theo chính sách chung, các quan niệm về nguyên nhân của những rủi ro ảnh hưởng đến khu vực cư trú và cuộc sống của dân làng cũng đã được giải thích theo phương pháp khoa học. Do đó việc di dời, thay đổi địa điểm cư trú của người Xtiêng ở Bình Phước hầu như đã chấm dứt. Vì vậy quan niệm thay đổi địa điểm cư trú cũng không còn, lễ hội cũng không còn được duy trì trong cộng đồng./.

Tác giả: Phạm Hữu Hiến



[1] Số liệu do Cục thống kê tỉnh Bình Phước cung cấp năm 2012

[2] Phan An, 2007, Hệ thống xã hội tộc người của người STiêng ở Việt Nam từ thế kỉ XIX đến năm 1975,  NXB Đại học quốc gia Tp.HCM

[3] Loại nhà được làm trên nền đất, có mái thấp, cửa mở về phía hai đầu hồi, được làm bằng các vật liệu phổ biến trong tự nhiên như: Tre, nứa, mây.

[4] Bảo tàng tỉnh Bình Phước, Báo cáo dự án “Ứng xử với môi trường tự nhiên của người S’Tiêng Bình Phước, truyền thống và hiện tại”, năm 2011.

[5] Điểu Huỳnh Sang, Phong tục chọn đất lập làng của người STiêng, http//svhttdlbinhphuoc. 13/6/2011.

[6] Bảo tàng tỉnh Bình Phước, Báo cáo khoa học dự án “Phục dựng lễ hội lập làng mới của người S’Tiêng Bình Phước” năm 2012.

[7] Theo cách phiên âm của ông Điều Minh Tâm – Thôn trưởng thôn Thiện Cư, xã Thiện Hưng, huyện Bù Đốp.

Lượt xem: 904

  • File đính kèm:

Bookmark and Share

Bình luận

chỉ mục.jpg

       Bảo tàng tỉnh Bình Phước

Đường Hồ Xuân Hương, phường Tân Phú ,
thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước

Email: baotangbinhphuoc@gmail.com
Điện thoại: 0271 6502 333 - 0271 3870 690

Giờ mở cửa
từ 8h-17h từ thứ Hai đến Chủ nhật
(Cả ngày Lễ và Tết)

>>> Đường tới Bảo tàng

TÌM-HIỂU-90-NĂM-LỊCH-SỬ-ĐẢNG-1.gif

HCM1.gif

Hệ thống mail công vụ 01.gif

covid-19.gif

LIÊN KẾT WEBSITE

Liên kết website ngành

Liên kết website trong tỉnh

Các Tạp chí văn hóa

THỐNG KÊ TRUY CẬP

Đang online: 3

Hôm nay: 240

Lượt truy cập: 357.803